Giải Nobel Hóa học thập niên 90
Top 3 theo 190 phiếu bầu từ mọi người: Elias James Corey · Richard R. Ernst · Robert Curl. (Đã cập nhật 6 thg 9, 2022.)
Tất cả những người đoạt giải Nobel Hóa học từ năm 1990 đến năm 1999, với năm và động lực chính thức của Quỹ Nobel. Bạn nghĩ khám phá nào là quan trọng nhất?
Được dịch tự động (bản gốc ở Español). Xem bản gốc
18 hàng đầu
-
1
Elias James Corey
1990. Vì sự phát triển lý thuyết và phương pháp tổng hợp hữu cơ.
-
2
Richard R. Ernst
1991. Vì những đóng góp của ông trong việc phát triển phương pháp đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân có độ phân giải cao.
-
3
Robert Curl
1996. Vì việc phát hiện ra fullerene.
-
4
Rudolph A. Marcus
1992. Vì những đóng góp của ông cho lý thuyết về phản ứng chuyển điện tử trong các hệ thống hóa học.
-
5
George Andrew Olah
1994. Vì những đóng góp của ông cho hóa học carbocation.
-
6
Kary Mullis
1993. Vì những đóng góp của ông trong việc phát triển các phương pháp hóa học dựa trên DNA […] cho việc phát minh ra phương pháp phản ứng chuỗi polymerase.
-
7
Mario J. Molina
1995. Cho công trình nghiên cứu về hóa học khí quyển, đặc biệt liên quan đến sự hình thành và phân hủy của ozone.
-
8
Michael Smith
1993. Vì những đóng góp của ông trong việc phát triển các phương pháp hóa học dựa trên DNA […] vì những đóng góp cơ bản của ông trong việc thiết lập phương pháp gây đột biến trực tiếp dựa trên oligonucleotide và cho sự phát triển các nghiên cứu về protein của ông.
-
9
Frank Sherwood Rowland
1995. Cho công trình nghiên cứu về hóa học khí quyển, đặc biệt liên quan đến sự hình thành và phân hủy của ozone.
-
10
Harold Kroto
1996. Vì việc phát hiện ra fullerene.
-
11
Walter Kohn
1998. Vì sự phát triển của ông về lý thuyết hàm mật độ.
-
12
Paul J. Crutzen
1995. Cho công trình nghiên cứu về hóa học khí quyển, đặc biệt liên quan đến sự hình thành và phân hủy của ozone.
-
13
John E. Walker
1997. Để làm sáng tỏ cơ chế enzyme làm cơ sở cho quá trình tổng hợp adenosine triphosphate (ATP).
-
14
Jens C. Skou
1997. Cho phát hiện đầu tiên về enzyme vận chuyển ion, Na+, K+ -ATPase.
-
15
Paul D. Boyer
1997. Để làm sáng tỏ cơ chế enzyme làm cơ sở cho quá trình tổng hợp adenosine triphosphate (ATP).
-
16
Richard Smalley
1996. Vì việc phát hiện ra fullerene.
-
17
Ahmed Zewail
1999. Cho nghiên cứu của ông về trạng thái chuyển tiếp của các phản ứng hóa học, sử dụng phương pháp quang phổ femto giây.
-
18
John Pople
1998. Vì sự phát triển của ông về phương pháp tính toán trong hóa học lượng tử.
Thứ hạng này được sắp xếp như thế nào? Theo sự bình chọn của mọi người: mỗi ▲ cộng một điểm và mỗi ▼ trừ đi một điểm. Bất cứ ai cũng có thể bỏ phiếu và bổ sung những gì còn thiếu.
Có cái gì đó còn thiếu?
Nhận xét (7)
Olah y los carbocationes.
Corey y la retrosíntesis, la base de la química orgánica moderna.
Crutzen, Molina y Rowland salvaron la capa de ozono.
Kary Mullis y la PCR, que luego conocimos todos en la pandemia.
Mario Molina, primer mexicano con Nobel de Química, por la capa de ozono.
Ernst y la resonancia magnética nuclear.
Kroto, Curl y Smalley, el fullereno, ¡una pelota de fútbol de carbono!