Các giải Nobel Văn học thập niên 90
Top 3 theo 17 phiếu bầu từ mọi người: Octavio Paz · Nadine Gordimer · Tony Morrison. (Đã cập nhật 3 thg 5, 2021.)
Mười nhà văn được trao giải Nobel Văn học từ năm 1990 đến năm 1999, trong đó có José Saramago, người duy nhất đoạt giải Nobel bằng tiếng Bồ Đào Nha.
Được dịch tự động (bản gốc ở Português). Xem bản gốc
10 hàng đầu
-
1
Octavio Paz
Mexico, 1990. Mê cung cô đơn.
-
2
Nadine Gordimer
Nam Phi, 1991. Tiểu thuyết chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
-
3
Tony Morrison
Hoa Kỳ, 1993. Người yêu dấu và ký ức về chế độ nô lệ.
-
4
Kenzaburō Ōe
Nhật Bản, 1994. Một câu hỏi cá nhân.
-
5
Dario fo
Ý, 1997. Nhà viết kịch và diễn viên trong Cái chết bất ngờ của một kẻ vô chính phủ.
-
6
Cỏ Günter
Đức, 1999. Chiếc trống.
-
7
Derek Walcott
Santa Lúcia, 1992. Bài thơ sử thi Omeros.
-
8
José Saramago
Bồ Đào Nha, 1998. Tiểu luận về bệnh mù lòa; giải Nobel duy nhất bằng tiếng Bồ Đào Nha.
-
9
Seamus Heaney
Ireland, 1995. Nhà thơ về vùng quê Ireland và những rắc rối.
-
10
Wisława Szymborska
Ba Lan, 1996. Thơ mỉa mai và sáng ngời.
Thứ hạng này được sắp xếp như thế nào? Theo sự bình chọn của mọi người: mỗi ▲ cộng một điểm và mỗi ▼ trừ đi một điểm. Bất cứ ai cũng có thể bỏ phiếu và bổ sung những gì còn thiếu.
Có cái gì đó còn thiếu?
Nhận xét (9)
Kenzaburō Ōe, menos lido mas enorme.
Saramago, o único Nobel em língua portuguesa, orgulho!
Szymborska, poesia simples e profunda.
Toni Morrison, Amada é um livro inesquecível.
Seamus Heaney, o maior poeta irlandês desde Yeats.
Octavio Paz, O Labirinto da Solidão.
Que década de Nobel!
Günter Grass fechando o século com O Tambor.
Dario Fo, o Nobel mais divertido.